Tình già
-Mai bà vẫn đi chứ?
-Ừ tôi sẽ đi, ông lại đợi tôi nhé!
Đấy là cách giã biệt của đôi bạn già bao lần rồi không biết, ở đúng cái chỗ ngoặt vào cái ngõ có ngôi biệt thự to đùng của người đàn bà mù loà, bà sống cùng cậu con trai và cô con dâu. Họ đi suốt ngày, đến khuya mới trở về trong những chiếc xe sang trọng, vội vàng nhìn nhau một chút rồi quay đơ ra ngủ, để sáng hôm sau lại đi sớm, chỉ mình bà sống cùng con chó và một người giúp việc trung tuổi.
-Bà cần gì để cháu giúp?
-Chỉ cần đưa cho tôi chiếc gậy.
Từ ngày bà biết cầm cây gậy dờ dờ ra ngõ rồi ra đường dường như công việc của người giúp việc cũng nhàn hơn, chỉ việc ở nhà chăm con chó cùng tưới mấy cái cây trên sân thượng đợi người đàn bà mù loà về ăn cơm và đợi đến đêm khi hai chiếc xe bóng lộn lao vào sân, là đóng cửa đi ngủ, và lại đợi hành trình y như hệt của ngày hôm sau.
Người đàn bà mù loà ở cùng cậu con giàu sụ nghe nói làm giám đốc một ngân hàng cỡ bự, cô con dâu cũng là trưởng phòng của một công ty cỡ lớn, họ đi tối ngày, để bà ở nhà cũng người giúp việc, thi thoảng họ về vội vã trong đêm khi bà cụ còn chưa ngủ, họ hỏi được những câu cũng rất vội vàng: “Hôm nay mẹ có ăn được nhiều không?”, “Dạo này cái chân mẹ còn đau chứ?” để rồi sáng hôm sau lại đi sớm.
Bà buồn, cứ ngày ngày thơ thẩn trong 20 mét của căn phòng dành riêng cho người mù thừa khoảng rộng mà thiếu đồ đạc, bước đi khập khiễng hết góc này đến góc kia, hoạ hoằn lắm người ở dứt được công việc chăm chó và tưới cây lên nhổ tóc sâu cho bà.
Một ngày buồn, đứa con trai đi công tác, đứa con dâu đưa con vào miền nam thăm ông bác, bà sai cô người ở đưa bà ra công viêc gần đó. Tiếng gậy khua khác làm bà nhanh chóng nhận ra, cũng một người mù như mình đây. Và họ gặp nhau. Một người đàn ông loà và một người đàn bà mù, họ gặp nhau. Để từ đó ngày nào cô người ở cũng phải bớt công việc chăm chó tưới cây đưa bà ra ngoài công viên để có dịp được nghe âm thanh của cái gậy khua khác, nghe thấy tiếng nói của người đàn ông cũng mù khác giống mình: “Bà phải khua gậy thế này này, bà phải tập đi đi, bắt đầu như thế này này, đến khi bà đi được, con cháu nó cũng đỡ khổ…”.
Thế là bà bắt đầu cuộc sống của người mù ngoài xã hội sau năm năm mù thật và bước chân của bà chỉ quẩn quanh trong 20m của căn phòng.
Bà bước ra ngoài xã hội hoà nhập cùng với một người đàn ông mù đi xin ăn khác.
Ông khác bà, ông có cuộc sống cực nhọc. Từ nơi xa hút ông tìm đến với thành phố này trong một cơn biến loạn của gia đình. Rồi cứ thế ông gắn bó với nó chẳng muốn về lại quê nữa, muốn đoạn tuyệt vĩnh viễn với tiếng chửi, với cái cười khinh bỉ của lũ con người vợ đã mất. Ông ở đây ngày còn loà thì đi xin ăn, tối vê với gầm cầu, giờ mù hẳn rồi thì đã quen đường, cứ thế mà đi, nên vẫn cứ đi xin ăn được và về ngủ nơi hẻm phố, cứ thế qua ngày.
Ông trở về từ cuộc chiến với một bên mắt đã mất hẳn thị lực, mắt còn lại thị lực giảm đáng kể. Ngày ngày ông ngồi đan sọt cho người chị dâu mang bán. Thế rồi duyên may run rủi thế nào đến năm bốn mươi tuổi ông gặp được bà. Bà người phốp pháp, nhanh nhẹn, ăn to nói lớn, làm phăm phăm, bà thương cái tật nguyền của ông. Mất chồng, bà sống cùng hai thằng con trai, vượt qua tất cả dư luận bà đưa ông về ở cùng cả hai thằng con trai.
Thế là ông có gia đình theo đúng nghĩa câu chữ, có người vợ, có một mái nhà, có cả hai thằng con không đẻ mà được nuôi. Về với bà ông lại ngày ngày sửa soạn tre, đan vài cái thúng, cái giần để bà đi chợ từ tờ mờ. Bà buôn bán khi con gà, chai mắm, khi mớ rau, công việc suôn sẻ nên bố con ông có đồng quà tấm bánh, có bữa cơm qua ngày, quan trọng hơn, có cả tiếng cười mỗi khi.
Thế nhưng, duyên phận chỉ thế, bà qua đời đột ngột, thế là ông bơ vơ, lũ trẻ cũng bơ vơ. Ông bơ vơ vợ đã đành, ông bơ vơ luôn ở cái căn nhà mà chẳng có gì là sự gắn kết của tình ruột thịt, trước kia gắn được chẳng qua là do cái nghĩa. Bà mất đi ông bơ vơ, càng bơ vơ hơn khi hai đứa trẻ lớn lên bắt đầu đổ tâm tính, bắt đầu nghe tiêm nhiễm từ bao lời ác độc từ phía dân làng cùng họ hàng nhà chúng. Ông bắt đầu phải làm nhiều hơn, bị đối xử như con trâu, con chó nhà chúng, làm hùng hục cả ngày và ăn chiếc bát sứt. Rồi đến ngày mắt ông mờ hơn nữa thì đến cái bát sứt ông cũng không có quyền hưởng, khi ngày ngày không thể ngồi mà làm ra cho chúng vài cái giần, cái rổ.
Thế rồi ông đi, ông đến với thành phố này để chốn chạy lời riếc móc, chốn chạy cả cái đói mỗi khi.
Ở đây ông thấy ổn hơn, tự mình làm mình ăn, nhiều thì no ít thì đói nhưng không phụ thuộc vào ai, cái đói cũng sung sướng hơn bởi có tự do, ngày ở với chúng, đói meo đói mắt, thế nhưng ông vẫn còn bị chửi đó thôi.
Ông đến với thành phố này tính ra thế là đã mười năm, cứ gầm cầu, hẻm phố, xin ăn, xin mặc, xin cả tình thương của người đời ban phát.Trưa về cái công viên này ngồi nghỉ, sáng ra đi qua nó trên đường đi xin ăn …Và sáng nay ông gặp bà, bà khua gậy tiếng khua khô khốc trên đường phố, tiếng khua cộc cằn, mạnh, và dằn, ông chỉ nghe mà biết có một người giống mình đây, ông biết thêm người này chắc mới vào nghề, chắc mới bị hất ra ngoài xã hội như mình ngày xưa đây. Ông lắng nghe rồi lại gần, cất giọng khàn khàn: “Người bạn nào ơi, đừng giơ gậy lên rồi cắm phập vào như thế, phải rê qua rê lại như thế này này để xác định những vật cản, những hố sâu, rồi mới nhẹ nhàng đặt xuống làm điểm trụ để bước tiếp, như thế này này”. Bà ngạc nhiên, ai đó bảo mình nhỉ? Thế rồi, ngày sau đúng giờ đấy cô người ở lại dẫn bà ra và cũng đúng giờ đấy ông lại đi kiếm ăn qua đoạn đường có cái công viên bà đi dạo.
Rồi dần dần cô người ở không cần phải theo bà nữa, đôi tai bà thính nhạy đến mức nghe tiếng xe bà biết nó cách mình khoảng bao xa, nghe âm thanh mà biết đó là loại động cơ nào, bước bao nhiêu bước là sẽ biết được mình sẽ rẽ vào đúng cái ngõ nhà mình, cái cổng nhà mình, và qua đường ra sao để người đi không quệt phải.
Cô người ở ở nhà chăn mèo chăn chó, lau nhà, còn bà đã được ra đường một mình, ấy là lúc cô con dâu đã ra khỏi cửa, ấy là lúc cậu con trai đã ngồi sau chiếc xe để người lái chở đi, bà được ra đường.
Ngày đầu bà về sớm hơn, ngày sau bà về muộn hơn, cũng chẳng sao, khoảng công viên trước nhà, đi đâu được. Ngày sau nữa cô con dâu biết bà ngồi tâm sự cùng người bạn già mù loà thì cũng kệ. Ngày nào cũng vậy họ gặp nhau trên đường đi dạo và đi làm, có hôm đã kiếm kha khá cho cả mấy ngày ông bỏ hẳn làm ngồi tâm sự cùng bà cả buổi.
Rồi có lần, người con trai về bất chợt, nhìn thấy bà ngồi cùng người ăn xin mù loà trên ghế công viên, hôm sau nữa thấy hàng xóm xì xào to nhỏ. Người con trai quyết định ra bắt mẹ về. Cái cổng được khoá lại, cánh cửa phòng bà ở những ngày sau cũng bị khoá nốt.
Những ngày đó ở gầm cầu ông nằm ốm và khóc.
-Tôi lại ra đây ông ạ, thằng con tôi nó đi nước ngoài rồi, cô người ở thương tình để tôi trốn ra đây, không ngờ gặp được ông.
Một ngày bà trệu trạo lên tiếng.
Ngày nào ông chả qua đây, ngày nào chẳng đứng để ngóng bà, có hôm bỏ cả việc đi xin chỉ để đứng ở đây, hi vọng bà trốn được nhà ra một chút để gặp ông.
Hai đứa con biết chuyện, chúng làm dữ hơn, chúng thuê hẳn một người nữa về, đứa chăn chó, đứa canh chừng và nhổ tóc sâu cho bà, chúng không muốn mất thể diện, không muốn một người ăn mày hiện diện trong ngôi nhà của chúng dù chỉ trong ý nghĩ. Bà nằm khóc nhiều hơn, những ngày đó ông cũng nằm ốm ở gầm cầu nhiều hơn.
Một ngày bà quyết định trốn nhà đi theo ông, bà nằm gầm cầu cùng ông, ăn những thức ăn ông xin được, ngủ cùng một manh chiếu có cái chăn là lành nhất trong tài sản “nhà ông”. Sau hai lần bà trốn nhà như thế, lũ con cũng tìm ra, chúng trói bà lại, cho lên xe, rồi quyết định đưa bà về một nơi xa hút, thật xa…
********
Một ngày qua ngõ nhà bà, ông nghe thấy tiếng kèn đám ma. Ông ngồi lặng bên hàng rào. Bao nhiêu người đến viếng, họ đi những chiếc ô tô sang trọng, họ mặc đồ tang lễ thành kính, họ mang những vòng hoa đồ sộ, hàng hàng ô tô xếp dài một ngõ, xếp ra cả đường to, không ai nhìn thấy một ông già mù ngồi lặng câm ở một góc phố, ông cứ ngồi, trên tay là chiếc khăn mù xoa nhàu nhĩ, ông lau đi lau lại, cứ lau, càng lau càng chảy…
Ông ngồi lặng lẽ, đôi mắt toàn màu đỏ của ông cũng chảy ra được thứ nước tưởng chỉ có ở đôi mắt của những người không phải ăn mày, không phải loà mù. Ông cứ ngồi lặng cho đến khi đoàn xe đi, xe tang cũng đi, tất cả đi, một mình ông lầm lũi ra công viên, ngồi vào cái ghế đá bà và ông vẫn ngồi dạo nọ. Ngồi một ngày, hôm sau lại thấy ông ra ngồi, rồi hôm sau nữa, người ta không thấy ông đi làm như mọi khi, rồi ngày sau nữa, cho đến khi không thấy ông ở đấy.
Đêm sau, đội cảnh vệ của phường báo tin: Người đàn ông sống ở gầm cầu đã chết. Người ta tìm thấy cái áo len của bà, cả đôi dép ở dưới đầu ông, khi ông dùng nó để kê trong một giấc ngủ dài và vĩnh viễn.
Công an sau khi khám nghiệm kĩ càng chỉ đi đến kết luận: ông chết vì đói và rét.


